Email: Contact.us@hoanmy.com | Hotline (028) 3820 6001
thai non thang

Sinh non và những điều cần biết

Theo tổ chức Y tế thế giới, đẻ non là một cuộc chuyển dạ xảy từ tuần 22 đến trước tuần thứ 37 của thai kỳ tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng.Đẻ non có tỷ lệ từ 5% đến 15 % trong tổng số các cuộc đẻ.

Tầm quan trọng đối với cộng đồng

Đẻ non nguy hiểm cho trẻ sơ sinh, tỷ lệ tử vong chu sản càng cao khi tuổi thai càng non. Đặc biệt, trẻ đẻ non có nguy cơ cao về di chứng thần kinh.

Trước 32 tuần tỷ lệ di chứng là 1/3. Từ 32- 35 tuần tỷ lệ di chứng thần kinh là 1/5. Từ 35 đến 37 tuần tỷ lệ di chứng là 1/10.
Chăm sóc một trường hợp đẻ non rất tốn kém. Ngoài ra khi lớn lên trẻ còn có những di chứng về tâm thần kinh, là gánh nặng cho gia đình cũng như xã hội.
Mẹ bị đẻ non thì cũng dễ biến chứng sót rau, nhiễm khuẩn hậu sản.

Do đó đẻ non là một trong những vấn đề quan trọng đặt ra cho các thầy thuốc và xã hội.

Nguyên nhân do thai

• Vỡ ối non: chiếm 10% các cuộc chuyển dạ đủ tháng, chiếm 30% các cuộc chuyển dạ sinh non.

• Đa ối: khoảng 1/3 các trường hợp đa ối chuyển dạ sinh non.

• Viêm màng ối do nhiễm trùng.

• Nhau tiền đạo, nhau bong non: gây xuất huyết trước khi sinh.

• Thiểu năng nhau: làm dinh dưỡng cho thai nhi không đầy đủ thường dẫn đến sinh non.

• Song hay đa thai: thời gian mang thai trung bình là 280 ngày đối với đơn thai, trong song thai là 261,5 ngày và tam thai là 246,5 ngày (theo Mc.Keown và Record).

• Thai dị dạng thường chuyển dạ sinh non nhất là khi kết hợp với đa ối (thai vô sọ) hoặc thiểu ối (không có thận) hoặc bệnh lý (bất thường nhiễm sắc thể, bệnh tự miễn, nhiễm trùng).

Nguyên nhân do mẹ

• Tiền căn sinh non: nguy cơ tái phát sinh non chiếm 25 – 50%, nguy cơ càng cao nếu có nhiều lần sinh non trước đó.

• Tiền căn nạo, sẩy thai.

• Tử cung dị dạng như tử cung hai sừng, tử cung hình tim, tử cung có vách ngăn bán phần…

• Tử cung kém phát triển.

• Hở eo tử cung.

• U xơ tử cung.

• Mẹ mắc các bệnh nội khoa như thiếu máu; nhiễm khuẩn cấp hoặc mãn tính đặc biệt là nhiễm trùng tiết niệu và viêm cổ tử cung, âm đạo; sốt rét; bệnh tim; cao huyết áp…

• Viêm ruột thừa: thường đi kèm với chuyển dạ sinh non có thể giải thích tình trạng này là vì tử cung bị kích thích do các cơ quan lân cận bị viêm nhiễm và sự phóng thích nội độc tố của vi trùng cùng với sự tăng nhiệt độ.

thai non thang

Các yếu tố khác

• Làm việc quá sức.

• Sống trong môi trường độc hại.

• Dinh dưỡng kém, mẹ có cân nặng trước sinh < 40kg. Mẹ quá trẻ (dưới 20 tuổi) hoặc lớn tuổi (hơn 40 tuổi). Hút thuốc (>20 điếu/ngày).

• Giao hợp thường xuyên có thể gây cơn co tử cung…

• Đặc biệt là không được chăm sóc tiền sản đầy đủ góp phần quan trọng làm tăng tỷ lệ đẻ non.

• Yếu tố nội tiết.

• Tình trạng căng thẳng của mẹ (stress về tâm lý và thể chất).

• Tiền sản giật, sản giật, hội chứng HELLP.

• Ngoài ra có thể do các yếu tố can thiệp hoặc các nguyên ngân chưa rõ

Dự phòng

Sau khi đã xác định các yếu tố nguy cơ, vai trò dự phòng là cố gắng loại bỏ các yếu tố nguy cơ:

  • Không nên đi du lịch xa, động viên nghỉ ngơi tối đa.
  • Tôn trọng thời gian nghỉ trước đẻ 6 tuần (8 tuần nếu trên 3 con).
  • Điều trị các nhiễm khuẩn nếu có.
  • Ổn định các bệnh lý của mẹ như nhiễm độc thai nghén, đái đường, đặc biệt các thai nghén có nguy cơ cao.
  • Khâu vòng cổ tử cung từ tuần thứ 12- 14 nếu có hở eo

BS.CK1 Nguyễn Thị Kiều Anh
Phó Trưởng Khoa Sản – Bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long

Bài viết này có giúp ích cho bạn?

Click vào ngôi sao để đánh giá!

Đánh giá trung bình / 5. Số phiếu: